Chống mài mòn thiết bị máy móc.

Hệ thống thu hồi giấy vụn

Thiết kế- lắp đặt quạt hút và thổi giấy vụn góp phần bảo vệ môi trường

Dán gạch bể bơi

Sử dụng Vật liệu Devcon (USA) để dán những viên gạch Ceramic/ Granit bị bong hỏng ở thành bên hoặc đáy Hồ bơi.

Thiết bị xử lý bụi

Thiết bị xử lý bụi và xử lý mùi trong sản xuất công nghiệp.

Hệ thống thông gió

Lắp đặt và xử lý Hệ thống thông gió, hút không khí nóng- ẩm tại Công ty CP Giấy Sài Gòn MT.

Xử lý van một chiều

Phục hồi nguyên trạng van một chiều tại nhà máy nước.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Công nghệ môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Công nghệ môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

Phát triển công nghệ thông tin xanh.

Phát triển công nghệ thông tin xanh và thực hiện tăng trưởng xanh là mô hình đang được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. 
Công nghệ xanh

Trong bối cảnh công nghệ thông tin ngày càng phát triển, mục tiêu của công nghệ thông tin xanh là làm cho ngành công nghệ thông tin trở nên xanh, lành mạnh để phục vụ cuộc sống; đồng thời sử dụng công nghệ thông tin để làm cho các ngành kinh tế – xã hội trở nên xanh, ngăn ngừa ô nhiễm không khí, nước, đất; ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trên thế giới, nhiều nước ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng các mô hình nhà máy thông minh, mạng lưới điện thông minh… công nghệ thông tin xanh có thể tối đa hóa sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, thúc đẩy chuyển sang xã hội carbon thấp. Đan Mạch là quốc gia đầu tiên trên thế giới thiết lập kế hoạch hành động công nghệ thông tin (công nghệ thông tin) xanh. Theo đó, các doanh nghiệp và người dân được hướng dẫn cụ thể về phát triển công nghệ thông tin xanh. Vương quốc Anh thực hiện “Chiến lược công nghệ thông tin xanh” của Chính phủ kết hợp với hướng dẫn công nghệ thông tin xanh quốc gia và các mục tiêu giảm thải do Chính phủ đặt ra; kết nối chính sách công nghệ thông tin xanh với các chính sách về chống biến đổi khí hậu.

Là quốc gia thành công trong phát triển công nghệ thông tin xanh với một Chiến lược Quốc gia công nghệ thông tin xanh được xây dựng từ năm 2008, Hàn Quốc đã thực hiện tốt việc “xanh hóa” công nghệ thông tin để làm ra các sản phẩm công nghệ thông tin chất lượng cao. Song song đó, Hàn Quốc triển khai cuộc sống xanh “nhờ công nghệ thông tin”, xây dựng sản xuất xanh, hệ thống giao thông và dịch vụ xanh thông minh, mạng lưới năng lượng thông minh…

Với những kinh nghiệm về phát triển công nghệ thông tin xanh tại đất nước mình, các chuyên gia Hàn Quốc khuyến nghị: Chính phủ nên khuyến khích công nghệ thông tin xanh sớm để không bỏ lỡ cơ hội. TS. Sang Hyun Park, Cơ quan Xã hội thông tin quốc gia Hàn Quốc cho rằng, khởi đầu Việt Nam cần có lộ trình tuyên truyền, phổ biến thông tin để nâng cao nhận thức của người dân, làm cho người dân hiểu mối liên hệ giữa tăng trưởng xanh và công nghệ thông tin, hiểu rằng công nghệ thông tin có thể gây tác động tiêu cực đến môi trường, bên cạnh việc công nghệ thông tin có thể giúp phát triển kinh tế và nâng cao mức sống của người Việt Nam.

Các chuyên gia Hàn Quốc cho rằng, Việt Nam cần đánh giá cấu trúc ngành và khả năng công nghệ thông tin và thực hiện xây dựng chiến lược vĩ mô ở cấp quốc gia. Chính phủ cũng nên nghiên cứu so sánh các chính sách, chiến lược công nghệ thông tin xanh của các nước tiên tiến và căn cứ vào thực tiễn để điều chỉnh chính sách thích hợp nhất đối với Việt Nam; thiết lập mục tiêu chi tiết cho mỗi khu vực sau khi thiết kế mô hình dịch vụ công nghệ thông tin xanh, có lộ trình chi tiết cho các chính sách trung – dài hạn.
Đặc biệt, cần phải làm cho các sinh viên hiểu rõ vấn đề vì họ chính là những người sắp sử dụng công nghệ thông tin nhiều nhất, phải có chiến lược tuyên truyền họ để chuẩn bị cho tương lai.

Vấn đề quan trọng nhất là nguồn kinh phí để thúc đẩy công nghệ thông tin xanh. Đây có thể là một trong những khó khăn ban đầu. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của Hàn Quốc, phát triển công nghệ thông tin xanh để tiết kiệm năng lượng, nên mặc dù phải đầu tư ban đầu, nhưng lợi ích là lâu dài. Chính phủ nên có chính sách xúc tiến đầu tư, hỗ trợ và ưu đãi các công ty có ứng dụng những công nghệ tiết kiệm năng lượng và không gây hại tới môi trường.
Nguồn Monre
Chia sẻ:

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Diễn đàn khí sinh học Việt Nam.

Ngày 26/12, tại thành phố Hồ Chí Minh, Hiệp hội Khí sinh học Việt Nam (VBA) và Trung tâm Tiết kiệm năng lượng thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức diễn đàn khí sinh học Việt Nam lần thứ nhất khu vực phía Nam.
Khí sinh học

Phát biểu tại diễn đàn, nhiều nhà khoa học đánh giá, là một quốc gia có thế mạnh với hơn 70% dân số phục vụ kinh tế nông nghiệp, Việt Nam có tiềm năng lớn về sử dụng khí sinh học, tuy nhiên đến nay việc sử dụng loại năng lượng sạch (biogas) này lại chưa hiệu quả.

Theo VBA, công nghệ sản xuất khí sinh học biogas là một trong những chiến lược nhằm giảm ô nhiễm môi trường và lượng khí thải nhà kính. Nguồn nguyên liệu dùng để sản xuất biogas có sẵn như phế thải trong sản xuất và chế biến nông, lâm sản, chất thải từ chăn nuôi… PGS.TS. Dương Nguyên Khang, Đại học Nông lâm TP.Hồ Chí Minh cho rằng, khí sinh học cần được chú ý như một phần quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và cần phải suy nghĩ rằng nguồn khí sinh học không chỉ dùng cho đun nấu. Nếu tận dụng được tốt việc chuyển chất thải hữu cơ thành khí sinh học, sẽ góp phần ngăn chặn ô nhiễm môi trường, tiêu diệt mầm bệnh trong trang trại chăn nuôi và đặc biệt còn dùng để thắp sáng, phát điện,…

 PGS.TS. Bùi Xuân An, Đại học Hoa Sen nhận định, Việt Nam chưa tận dụng được nguồn khí sinh học trong sản xuất là do các công trình này vốn đầu tư lớn, khả năng hoàn vốn lâu trong khi người chăn nuôi đang gặp khó khăn. Trong khi đó, cơ chế chính sách của nước ta hiện nay chưa chú trọng đến việc đưa năng lượng từ khí sinh học vào ngành điện năng, khí thu gom từ hệ thống về dùng không hết thì đốt bỏ đi, đó là sự lãng phí. PGS.TS. Dương Nguyên Khang cho biết thêm, hiện công nghệ xây dựng hệ thống khí sinh học chưa được phổ biến, nên nhiều đơn vị, hộ dân không biết tiếp cận như thế nào.  

Để giải quyết những khó khăn này, VBA cho rằng, Chính phủ cần có những chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp và nông dân về tài chính, đất đai, tín dụng, thuế cũng như kỹ thuật...; xây dựng chiến lược quốc gia về khí sinh học, đồng thời đánh giá lại tiềm năng và xây dựng quy hoạch năng lượng sinh học theo từng vùng.

Hiện nay, tại khu vực phía Nam chỉ có một số ít đơn vị tận dụng hiệu quả khí sinh học làm nguồn năng lượng phục vụ cho sản xuất như: Dự án tận dụng khí biogas đốt lò hơi thay thế dầu FO của Công ty Mía đường Tuy Hòa (Phú Yên); Dự án tận dụng khí biogas để phát điện tại nhà máy bia Sài Gòn (TP.Hồ Chí Minh); Dự án tận dụng khí biogas trong sản xuất của Nhà máy Tinh bột Sơn Hải (Quảng Ngãi), của Công ty Tinh bột sắn Krông Bông (Đắk Lắk). Một số nhà máy sản xuất bột mì ở Bình Dương, Tây Ninh, Bình Phước đang nghiên cứu tận dụng nguồn khí sinh học để ứng dụng cho sản xuất. Riêng tại Đồng Nai, được xem là địa phương tận dụng, khai thác tốt nguồn khí sinh học khi có trên 12.000 công trình khí sinh học các loại, nhưng khả năng tận thu năng lượng chỉ đạt 65%.
Nguồn monre.
Chia sẻ:

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Bê tông sinh học.

Nhờ một loại bê tông sinh học, mơ ước trồng cây trên tường, mái nhà của nhiều người sẽ trở thành hiện thực.


Bê tông sinh học

Antonio Aguado, một nhà khoa học của Đại học Bách khoa Catanulya tại Tây Ban Nha, cùng các đồng nghiệp tìm ra cách chế tạo loại bê tông sinh học để đáp ứng nhu cầu tạo vườn thẳng đứng của người dân vùng Địa Trung Hải trong vài năm gần đây, Gizmag đưa tin.

Bê tông sinh học vẫn chứa magie phosphate như những loại bê tông truyền thống để tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi tảo, nấm, địa y và rêu trong điều kiện khí hậu Địa Trung Hải. Tuy nhiên, tỷ lệ các thành phần trong bê tông sinh học được điều chỉnh để tăng độ xốp và giảm độ cứng của bề mặt bê tông để cây có thể sinh trưởng.

Về cấu tạo, bê tông sinh học của Aguado gồm ba lớp. Do tiếp xúc với bề mặt của tòa nhà, lớp dưới cùng sẽ có khả năng chống thấm nước. Lớp giữ nước nằm ở giữa và lớp hút nước ở trên cùng. Nhóm nghiên cứu khẳng định người sử dụng có thể trồng cây trên bê tông của họ sau khoảng một năm - khoảng thời gian để rêu và các dạng vi sinh vật khác phát triển đầy đủ. Nhưng sau khoảng thời gian đó, họ sẽ không phải bảo dưỡng định kỳ.

Nhóm nghiên cứu nhận định rằng nếu cây cối mọc kín trên bê tông, chúng sẽ trở thành vật liệu cách âm, cách nhiệt. Ngoài ra, nếu mọi ngôi nhà đều trở thành vườn rau đứng, chúng sẽ tạo nên cảnh quan đẹp và góp phần giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
Nguồn vnexpress
Chia sẻ:

Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012

Khắc phục ô nhiễm nước bằng hạt nano.

Các hạt nano bằng sắt được bọc trong một lớp phủ nhựa chống gỉ sẽ có thể làm sạch các hóa chất gây ô nhiễm dưới mặt đất.
Khắc phục ô nhiễm nước

Theo TS Denis O’Carrol, ô nhiễm đất là một vấn đề của lịch sử. Từ những năm 1970, con người đã sai lầm khi nghĩ rằng chôn chất độc xuống đất, nó sẽ tự biến mất, lớp dưới bề mặt đất sẽ hoạt động chức năng lọc tự nhiên. Thực tế là chất thải này có khả năng làm ô nhiễm môi trường, ô nhiễm tài nguyên nước mặt và còn tồn tại hàng thập kỷ.

O’Carroll thuộc phòng thí nghiệm nước Đại học New South Wales, đã sử dụng công nghệ nano để xử lý các chất ô nhiễm. Ông đã tiến hành thử nghiệm công nghệ làm sạch tầng nước mặt mới, sử dụng các hạt kim loại kích thước nano, nhỏ hơn sợi tóc người từ 500 tới 5000 lần.

Hạt sắt được bơm thẳng vào đất bị ô nhiễm, nơi chúng sẽ chảy tới các chất ô nhiễm và bắt đầu phản ứng oxy hóa khử. Trong phản ứng này điện tử được di chuyển giữa hạt nano và chất ô nhiễm. Phản ứng sẽ thay đổi trạng thái ôxy hóa của chất gây ô nhiễm và làm giảm bớt tính độc tổng thể, nâng dần tới mức độ an toàn hơn.

Kích thước nhỏ của các hạt nano cho phép chúng có thể di chuyển qua các kênh hiển vi trong đất và đá để tiến tới và phá hủy các chất gây ô nhiễm, điều mà các hạt lớn hơn không thể làm được.

Ngoài ra, các hạt sắt kích thước nano đặc biệt an toàn với môi trường vì chúng không linh hoạt và phân hủy một cách nhanh chóng. Thực tế, điều này cũng có phần bất lợi vì nó hạn chế khả năng tìm kiếm và phá hủy độc tố của các hạt nano.

Để tối ưu hóa các hạt nano, O’Carroll đang thử nghiệm nhiều dạng sắt khác nhau, và bao bọc các hạt trong lớp nhựa chống gỉ, giúp làm chậm quá trình phân hủy và tăng tính linh động của sắt, mà không ảnh hưởng xấu tới môi trường.

Công nghệ mới đã được thử nghiệm tại hai vùng bị ô nhiễm ở Ontario và quan sát thấy kết quả giảm đáng kể các chất gây ô nhiễm tại cả hai vùng. Nghiên cứu đã được đăng trên tạp chí The Nature of Things.
Nguồn Vista
Chia sẻ:

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

Ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường

Với Đề án phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đến năm 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, có 8 nhóm nhiệm vụ sẽ được ưu tiên thực hiện.

Thứ nhất là nhóm nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Nhóm nhiệm vụ thứ hai là nâng cao năng lực cán bộ về công nghệ sinh học phục vụ lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Nhóm nhiệm vụ thứ ba là tăng cường trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Thứ tư là phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong quan trắc, đánh giá chất lượng môi trường.
Thứ năm là phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong xử lý ô nhiễm, khắc phục sự cố môi trường, cải tạo và phục hồi các hệ sinh thái.
Thứ sáu là nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học để tạo ra các công nghệ, sản phẩm thân thiện với môi trường, sản xuất nhiên liệu sinh học.
Thứ bảy là nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học để lưu giữ, bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học.
Thứ tám là nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện các phương pháp đánh giá nhằm kiểm soát, quản lý hiệu quả công nghệ và sản phẩm công nghệ sinh học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Rơm rạ

Một trong những mục tiêu cụ thể là phát triển và ứng dụng từ 5-10 loại chế phẩm sinh học để xử lý chất thải và được đăng ký lưu hành theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Đến năm 2020, bảo đảm kiểm soát và đánh giá được chất lượng, hiệu quả, độ an toàn của công nghệ sản phẩm công nghệ sinh học ứng dụng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam. Đào tạo được 300-400 kỹ thuật viên trong nước và tham gia đào tạo được 20-30 thạc sỹ và 10-15 tiến sỹ công nghệ sinh học môi trường trong khuôn khổ các đề tài, dự án, nhiệm vụ của Đề án.

Các nhiệm vụ thực hiện Đề án bao gồm nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong phòng ngừa và xử lý ô nhiễm môi trường, ưu tiên đối với xử lý chất thải y tế; chất thải công nghiệp; chất thải nguy hại; chất thải đặc thù trong hoạt động an ninh, quốc phòng; nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong cải tiến quy trình công nghệ theo hướng thân thiện môi trường và sản xuất sạch hơn.Trong đó, có ưu tiên phát triển và ứng dụng các tổ hợp các chất có hoạt tính sinh học cao và vi sinh vật để tạo ra các sản  phẩm thân thiện môi trường hoặc thay thế các hóa chất nguy hại trong quá trình sản xuất của một số ngành kinh tế quan trọng.
Nguồn thiennhien.net
Chia sẻ:

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012

Chất ô nhiễm kích thước nano nguy hiểm cho cây trồng.

Theo hai nghiên cứu mới của Trường Đại học California (Hoa Kỳ), các chất ô nhiễm kích thước nano có thể thâm nhập vào rễ cây trồng, gây ra hàng loạt thay đổi đối với sự sinh trưởng và sức khỏe của cây trồng. Các hạt nano nhỏ này có thể cản trở sự phát triển của cây trồng, thúc đẩy hấp thụ các chất ô nhiễm ở cây trồng và làm tăng nhu cầu phân bón cho cây trồng.

Chất ô nhiễm

Các vật liệu nano được xả ra trong khí thải của máy kéo chạy diesel, có thể đổ xuống các cánh đồng cây trồng. Các vật liệu nano sử dụng trong vải dệt, kem chống nắng và các sản phẩm khác được thu gom dưới dạng các chất rắn, tách từ bùn cống và nước thải; các chất rắn giàu dưỡng chất thường được bón cho các cánh đồng ở Hoa Kỳ để cải thiện đất. Các nghiên cứu mới đề cập đến các ảnh hưởng nguy hại mà hạt nano có thể gây ra cho các cây trồng trong tương lai khi việc tiếp xúc gia tăng.

Để nghiên ứu tác động của các vật liệu nano đến cây trồng, nhóm nghiên cứu đã cho cây đậu tương từ lúc nảy mầm từ hạt tiếp xúc với đất được xử lý bằng một trong hai vật liệu nano oxit kim loại được thương mại phổ biến, đó là oxit xeri dùng làm chất xúc tác trong nhiên liệu diesel và các sản phẩm khác hoặc các hạt oxit kẽm sử dụng trong kem chống nắng và dùng làm tác nhân kháng khuẩn.

So với các cây trồng không được tiếp xúc với đất qua xử lý, các cây trồng này sinh trưởng trong đất có các hạt nano oxit kẽm phát triển ít lá hơn. Trái lại, cây trồng trong đất chứa oxit xeri còi cọc nhất. Oxit kẽm tích tụ trong lá cây đậu tương và hạt đậu được trồng trên đất đã qua xử lý. Tuy nhiên, sự thâm nhập của oxit xeri vào trong cây đậu tương chỉ dừng lại lại tại các mấu nhỏ của rễ. Ở các cây đậu tương được tiếp nhận lượng oxit xeri ở mức cao nhất, các mấu nhỏ ở rễ không chứa vi khuẩn thông thường, lấy nitơ từ không khí và chuyển thành dạng hóa học (amoniac) mà đậu tương và các cây trồng khác dùng làm phân bón.

Khả năng cố định nitơ của đậu tương và các loại đậu khác là “một trong những quá trình quan trọng nhất của vi khuẩn trong ngành nông nghiệp”. Do đó, khả năng xeri nano ngăn chặn quá trình này là một phát hiện mới quan trọng nhất và gây nhiều rắc rối nhất.

Đây là nghiên cứu đầu tiên về các ảnh hưởng của vật liệu nano đến cây trồng tiếp xúc qua đất.

Trong nghiên cứu thứ 2, được công bố trên Tạp chí Environmental Science & Technology, nhóm nghiên cứu đã cho rễ cà chua, bí xanh và đậu tương tiếp xúc với các thù hình của các bon (fullerene), đó là các vật liệu nano thông dụng sản xuất từ các bon tinh khiết. Vì dư lượng thuốc bảo vệ thực vật độc hại hòa vào đất rất lâu sau khi chúng được bón, do vậy, nhóm các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm hiểu số lượng các thù hình không độc hại trong vùng rễ ảnh hưởng ra sao đến phản ứng của cây trồng với bất cứ dư lượng DDT phân hủy nào.

Khi các thù hình xuất hiện, cả 3 loại cây trồng nói trên đã loại bỏ được nhiều thuốc bảo vệ thực vật từ vật liệu trong đó chúng sinh trưởng, trong trường hợp này là các chất khoáng bón cây. Vì cây trồng không phát triển đến giai đoạn ra quả, do đó, các nhà nghiên cứu chưa biết chất ô nhiễm có tích tụ trong cây trồng không, “nhưng chắc chắn nó có trong hệ rễ”.

Nguồn vista.vn
Chia sẻ:

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Biến nước biển thành nước ngọt nhờ năng lượng mặt trời.

Biến nước biển thành nước ngọt nhờ năng lượng mặt trời  là kết quả nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học thuộc Viện Thủy điện và Năng lượng Tái tạo (Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam).


Máy tạo nước ngọt.


Theo đó, sau khi cấp nước vào bể chứa, nước biển được năng lượng Mặt trời đun nóng, bốc hơi và ngưng tụ trên bề mặt trong của tấm kính và chảy về một bể chứa nước sạch.

Nguyên lý hoạt động của thiết bị hoàn toàn bằng năng lượng mặt trời, không tốn chi phí năng lượng, không phát thải khí nhà kính, không có hóa chất, nước ngọt tạo ra không phải lọc lại mà sử dụng được ngay.

Với thiết bị này, các nguồn nước không uống được trực tiếp như nước biển, nước lợ, nước nhiễm phèn, nước ao, hồ, sông suối… có thể nhanh chóng biến thành nước ngọt.

Thiết bị có năng suất trung bình đạt hơn 6 lít/m2/ngày, tận thu được nước mưa trên mặt kính của thiết bị khi trời có mưa. Đặc biệt, thiết bị được chế tạo từ composite, có thể tháo lắp linh hoạt, phù hợp với mọi quy mô dân cư trên mọi địa hình, kể cả vùng hải đảo cách xa đất liền.
Nguồn Báo Đất Việt
Chia sẻ:

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012

Sản xuất năng lượng hạt nhân từ nước biển.

Các nhà khoa học tin rằng nghiên cứu 40 năm ròng về phương pháp sản xuất năng lượng hạt nhân từ Urani trong nước biển sắp cho kết quả.

Nước biển

Theo Hội Hóa học Hoa Kỳ, ước tính có ít nhất khoảng 4 tỷ tấn urani trong nước biển và nước biển có thể góp phần tăng sản lượng năng lượng hạt nhân. Đây là ý tưởng được trình bày tại Hội nghị và triển lãm quốc gia Hoa Kỳ lần thứ 244 ở Philadelphia.

Tiến sĩ Robin D. Rogers, tác giả của nghiên cứu này cho biết đại dương là nguồn trữ urani lớn hơn tất cả những mỏ urani trên cạn có thể khai thác được. Vấn đề ở chỗ, nồng độ chất này rất thấp nên chi phí chiết xuất sẽ cao.

Phân tích kinh tế của Tiến sỹ Erich Schneider cho Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (DOE) so sánh khai thác urani từ nước biển với các phương pháp khai thác quặng urani cho thấy, các kỹ thuật được DOE tài trợ có thể khai thác lượng urani nhiều gấp 2 lần so với sản lượng ở Nhật vào cuối thập niên 90. Vì vậy, chi phí sản xuất sẽ giảm đi gần 50% so với công nghệ của Nhật.

Tuy vậy, chiết xuất urani từ nước biển vẫn đắt hơn nhiều so với khai thác quặng. Cũng theo TS. Schneider, hiện không chắc chắn được về trữ lượng urani trên cạn nên khó có thể lập kế hoạch sản xuất dài hạn. Vì vậy, nếu khai thác urani từ nước biển thì sẽ khắc phục được hạn chế này đồng thời còn giảm một số tổn thất môi trường mà khai thác quặng gây ra như nước thải.
Nguồn thiennhien.net
Chia sẻ:

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

Hợp chất mới giúp lọc nước nhiễm phóng xạ.

Báo Japan Times (Nhật Bản) dẫn tuyên bố của chuyên gia Tomihisa Ota, Đại học Kanazawa về hợp chất mới có khả năng phát hiện và kết tủa các chất phóng xạ trong nước.
Lọc nước nhiễm xạ.

Bào chế từ nhiều loại hóa chất và khoáng sản, hợp chất này có thể giúp loại bỏ các chất phóng xạ như iod, cesi hay stronti. Hợp chất mới này được hy vọng sẽ mở ra hướng đi mới giải quyết lượng nước chứa phóng xạ khổng lồ đang lưu trữ tại nhà máy điện Fukushima 1 sau sự cố hạt nhân.

Trong thí nghiệm mới nhất, sau khi đổ 1,5g hợp chất này vào 100ml nước có chứa cesi nồng độ từ 1 đến 10 phần triệu, chất này sẽ loại bỏ gần như hoàn toàn cesi. Mặc dù chất sử dụng pha trong nước chưa phải là chất phóng xạ, song ông Ota khẳng định hợp chất này có thể sử dụng để xử lý nước bị nhiễm phóng xạ do “chất thí nghiệm có cùng đặc tính hóa học với các chất phóng xạ”.
Nguồn yeumoitruong
Chia sẻ:

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

Công nghệ sản xuất xăng từ hơi nước và CO2.

Một công ty tại Anh tìm ra công nghệ đột phá để sản xuất xăng từ hơi nước và carbon dioxide (CO2) trong không khí.
Sản xuất xăng từ hơi nước và CO2

Air Fuel Synthesis - một công ty nhỏ tại thành phố Stockton-on-Tees, Anh - thông báo họ đã chế tạo thành công hệ thống sản xuất xăng từ khí CO2 và hơi nước. Sau khi khởi động hệ thống, công ty đã sản xuất 5 lít xăng từ tháng 8 tới nay. Ban lãnh đạo công ty muốn xây dựng một nhà máy quy mô lớn để sản xuất một tấn xăng mỗi ngày, The Independent đưa tin.

"Chúng tôi lấy khí CO2 từ không khí và khí hydro từ nước rồi biến chúng thành xăng", Peter Harrison, giám đốc điều hành công ty, cho biết.

Harrison khẳng định Air Fuel Synthesis sẽ trở thành doanh nghiệp đầu tiên trên thế giới sản xuất xăng từ không khí. Theo ông, loại xăng mới có màu sắc và mùi giống hệt xăng bình thường, song nó không tạo ra nhiều khí thải độc hại như xăng mà người ta sản xuất từ dầu thô.

"Những động cơ đang sử dụng xăng hiện nay đều có thể dùng xăng của chúng tôi", Harrison khẳng định.

Nhiều người tỏ ra hoài nghi thông báo của Air Fuel Synthesis, bởi họ nghĩ biến nước và CO2 thành xăng là điều không tưởng. Tuy nhiên, ông Tim Fox, trưởng bộ phận Năng lượng và Môi trường của Viện Kỹ sư cơ khí tại thành phố London, xác nhận rằng ông đã thấy công nghệ của Air Fuel Synthesis.

"Họ đã lắp đặt xong hệ thống máy móc và tôi đã thấy nó. Hơi nước và CO2 biến thành xăng theo một quy trình. Hệ thống máy móc hút hơi nước và CO2 từ không khí xung quanh rồi biến chúng thành xăng", Fox phát biểu.

Mặc dù Air Fuel Synthesis đang thử nghiệm công nghệ, ban lãnh đạo công ty tin rằng họ có thể dùng các dạng năng lượng tái sinh để cấp điện cho hệ thống.

CO2 là một trong những loại khí gây nên hiện tượng ấm lên của trái đất. Giới bảo vệ môi trường tin rằng giảm lượng CO2 trong không khí, giảm hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch ( như dầu mỏ và than đá) là giải pháp hiệu quả nhất trong nỗ lực chống biến đổi khí hậu. Vì thế, nếu công nghệ của Air Fuel Synthesis được áp dụng trên quy mô lớn, nó sẽ giúp con người đạt cả hai mục đích: giảm nồng độ CO2 trong khí quyển và giảm nhu cầu đối với nhiên liệu hóa thạch.

"Nếu Air Fuel Synthesis nhận đủ số tiền tài trợ cần thiết, chúng tôi sẽ sản xuất xăng từ không khí trên quy mô công nghiệp vào năm 2014", Harrison nói.

Nguồn  tinmoitruong.vn
Chia sẻ:

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Xe buýt chạy bằng rác thải.

Từ năm 2010, những xe buýt sạch sẽ lăn bánh trên các đường phố Oslo (Na Uy), với nhiên liệu sinh học được sản xuất từ các loại rác thải như bùn, nước cống và thức ăn thừa. 
Nhiên liệu sinh học


“Xe buýt mới sẽ giúp chúng tôi giảm được nhiều thứ như khí thải CO2, rác, tiếng ồn và cả nước cống”, Ole Jakob Johansen, một quan chức phụ trách dự án chế tạo xe buýt sử dụng nhiên liệu sinh học của Oslo phát biểu.
Nhiêu liệu xe buýt sử dụng là khí metan được tạo ra từ bùn và nước cống. Nhà máy xử lý rác thải Bekkelaget – nơi tiếp nhận rác thải của 250.000 người trong thành phố - sẽ cung cấp nguyên liệu để sản xuất metan. “Hoạt động tắm rửa của mỗi người trong một năm tạo ra khoảng 8 lít dầu diesel. Con số đó tuy không lớn, nhưng nếu nhân với 250.000, chúng ta sẽ có đủ nhiên liệu để 80 xe buýt chạy được 100.000 km mỗi xe”, Johansen nói.
Sử dụng khí metan sinh học là một bước nhảy vọt trên phương diện bảo vệ môi trường. Ngoài việc giảm lượng khí thải carbon, xe buýt dùng metan sinh học thải ra ít nitơ oxit (giảm 78%) và hạt siêu nhỏ gây ô nhiễm (giảm 98%) hơn so với xe buýt dùng diesel. Mức độ ồn của chúng cũng giảm tới 92% so với xe buýt truyền thống. Johansen cho biết, chi phí sản xuất nhiên liệu sinh học thấp hơn so với dầu diesel. Người ta chỉ mất 0,72 euro để sản xuất lượng khí metan tương đương một lít dầu diesel, trong khi giá một lít dầu diesel ngoài các trạm xăng ở Na Uy là hơn 1 euro. “Metan sinh học rẻ hơn, song chi phí mua xe buýt mới và bảo dưỡng chúng sẽ cao hơn. Nếu tính cả chi phí sản xuất metan, mua xe và bảo dưỡng thì chi phí dành cho xe buýt chạy nhiên liệu sinh học sẽ cao hơn 15% so với xe buýt truyền thống”, Anne-Merete Andersen, quan chức phụ trách hệ thống vận tải công cộng của thành phố Oslo, nhận xét.
Khác với ethanol sinh học (được sản xuất từ ngũ cốc và thực vật), metan sinh học không hề làm giảm sản lượng lương thực. Nó cũng không cần tới các nguồn nước trong quá trình sản xuất như ethanol sinh học. Các tổ chức bảo vệ môi trường rất phấn khởi khi giới chức thông báo về dự án tại Oslo. “Chúng tôi đã chờ đợi điều này từ lâu. Đây là một dự án vừa góp phần bảo vệ môi trường vừa nâng cao chất lượng cuộc sống đô thị. Tôi thấy xe buýt sử dụng nhiên liệu sinh học không hề có bất kỳ yếu điểm nào. Ngược lại, nó cho chúng ta thấy con người luôn có cách để tận dụng những thứ mà chúng ta bỏ đi”, Olaf Brastad, một lãnh đạo của tổ chức Bellona, phát biểu.
 Nếu nhà máy xử lý rác thải thứ hai của Oslo tham gia dự án và lượng thức ăn thừa của người dân được biến thành nguyên liệu sản xuất nhiên liệu sinh học, lượng khí metan mà thành phố tạo ra có thể cung cấp cho 350 đến 400 xe buýt hoạt động. Theo tính toán của các chuyên gia, với 400 xe buýt sử dụng metan sinh học, lượng khí thải CO2 sẽ giảm khoảng 30.000 tấn mỗi năm. Trước đó, xe buýt chạy bằng nhiên liệu sinh học đã xuất hiện ở nhiều thành phố châu Âu như Lille (Pháp) và Stockholm (Thụy Điển).

                                                                          Nguồn VnExpress 
Chia sẻ:

Hướng dẫn thi công